Hoạ sĩ Lưu Yên đã đưa lên hình tượng múa Rông chiêng
(mã số 239). Hoạ sĩ Nguyễn Thế Hùng giới thiệu Múa Sạp (mã
số 240) và múa nón Thái (mã số 241) bằng thủ pháp tạo hình
múa đơn tương tự. Tuy 4 điệu múa nói trên đều là điệu múa đông người (Múa nón
Thái và múa ô đều là múa nữ đông người, còn 2 múa kia là múa nam nữ đông người)
qua hình tượng múa một người, người xem - nhất là các nghệ sĩ múa - vẫn cảm
nhận được những điệu múa ấy vì 2 hoạ sĩ đã nắm bắt được đặc điểm nghệ thuật
của từng điệu múa, chẳng hạn như động tác nhún của múa nữ Giarai trong Rông
chiêng, nên hình múa trên tem vẫn thể hiện được thần thái từng điệu múa. Rõ
ràng các hoạ sĩ đã rộng đường sáng tạo mà vẫn thể hiện được các điệu múa dân
gian sân khấu nói trên.

Bộ 272 - Múa Tây Nguyên của hoạ sĩ Trần Việt Sơn - giới thiệu
8 điệu múa : múa trống (mã số 762), múa dù (mã số 763), múa khiên (mã số 764),
múa phi ngựa (mã số 765), múa Kà dong (mã số 766), múa giã gạo (mã số 767).
Ở sự sáng tạo hình tượng múa trên tem của cùng một tác giả nổi lên hai hiện
tượng đáng chú ý :
- Ở múa giã gạo hoạ sĩ thành công trong việc đưa lên một nét
sinh hoạt của phụ nữ Banar.
- Ngược lại ở múa Rông chiêng (mã số 768) và Chàm rông (mã
số 769), trong tạo hình nghệ thuật của mình, tác giả chưa thể hiện được đặc
điểm của hai điệu múa dân gian - sân khấu này. Đó là chưa nói đến sự phân vùng
địa lý của các điệu múa, chẳng hạn như múa Chàm rông không thuộc nhóm múa Tây
Nguyên vì người Chăm - chủ nhân của múa quạt Chăm sinh sống ở vùng Ninh Thuận
(cực nam trung bộ)

Có những con tem không trực diện nói đến múa dân tộc nhưng
ở đấy tác giả đã phát hiện được những giá trị nghệ thuật múa truyền thống như
ở hai tem “Vũ Nữ” (mã số 1835) và “Tượng vũ nữ Chăm” (mã số 1839) trong mục
“Nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc Chàm”. Hoạ sĩ Trần Thế Vinh đã khéo chọn
lát cắt trên phù điêu Tháp Chàm để nêu bật một hình tượng múa.

1835 - 1839
Ở bộ tem “Y phục Tây Nguyên” (mã số bộ 518), tuy không trực
diện nói đến múa dân gian vùng cao nguyên này, hoạ sĩ Trần Ngọc Uyển đã tạo
dáng cho những chàng trai, cô gái Banar trong trang phục dân tộc. Dáng đứng
của cô gái Giarai khi giã gạo và dáng đứng của chàng Banar khi đánh cồng rất
gần gũi với dáng đi và dáng đứng trong điệu múa dân gian của hai dân tộc Banar,
Giarai. Sự tạo dáng của hoạ sĩ Trần Ngọc Uyển có cơ sở thực tế múa dân gian...
Ngoài múa Việt Nam, tem nước ta còn nói đến một hiện tượng nghệ thuật động (cùng
họ với múa) trên thế giới là trượt băng nghệ thuật (figure skating). Ở bộ tem
“Thế vận hội mùa đông Sarafievo” (mã số bộ 433), theo tài liệu nước ngoài, trượt
băng nghệ thuật bắt đầu được giới thiệu trên tem (hình 433B - Blốc 24). Bộ tem
mã số 595 trực diện nói đến trượt băng nghệ thuật. Hoạ sĩ Trần Ngọc Uyển giới
thiệu 8 tem với tạo hình trượt đôi ở các thế đứng, ngồi nằm, bê đỡ. Sự phong
phú của tạo hình múa đôi làm nổi bật sự đa dạng của nghệ thuật trượt băng trong
8 mẫu tem (bộ mã số 569) cùng một nội dung xếp cạnh nhau : 2053, 2054, 2055,
2056, 2057, 2058, 2059, 569B. Trong bộ Thế vận hội mùa đông Alberville (bộ tem
mã số 624) Hoạ sĩ Trần Thế Vinh giới thiệu trượt băng nghệ thuật xem như một
hình thức trượt tuyết.

Bộ tem mã số 635 Thế vận hội mùa đông Alberville 92, Trần
Thế Vinh tiếp tục giới thiệu trượt băng nghệ thuật trong 5 hình thức trượt băng
khác nhau.
Ở 2 con tem số 2355 (bộ 624), 2405 (bộ 635) các tạo hình múa
đôi khác nhau về tư thế và động luật cho thấy rằng tác giả đã có một tư duy
hình tượng khá sáng tạo.
Bộ tem mã số 222 còn mang nội dung võ thuật dân tộc. Võ Việt
với các môn đấu kiếm (593), đánh côn (594), đi quyền (596), múa mã tấu (597),
đỡ khiên (598) hoạ sĩ Trần Huy Khánh đã thể hiện được các thế võ. Đó là thành
công về nghệ thuật. Giá như Trần Huy Khánh chú ý đến tạo hình của các thế võ
để đề cao vẻ đẹp khoẻ khoắn của chúng thì giá trị thì giá trị thẩm mỹ của võ
thuật càng cao và trong võ thuật Việt Nam, bên cạnh vấn đề đấu võ, còn có múa
võ. Chẳng thế mà nghệ thuật Hát Bội Bình Định đã sử dụng các thế múa võ Bình
Định để làm giầu ngôn ngữ múa Tuồng. Thiết tưởng người vẽ tem về võ thuật nên
nghĩ đến vấn đề này để có một định hướng thẩm mỹ tạo hình khi miêu tả đối tượng
quan sát của mình.

Trong bộ tem về múa đã phát hành, những tem về múa Việt Nam
không nhiều. Chúng chỉ mới thể hiện một phần rất nhỏ di sản múa Việt Nam. Cho
đến nay đã có hàng trăm tác phẩm múa giá trị được giải thưởng cao trong và ngoài
nước tại các liên hoan nghệ thuật thế giới cùng với những điệu múa sáng giá,
nổi lên những tên tuổi nghệ sĩ, nhà nghiên cứu mà Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ
Nghĩa Việt Nam phong danh hiệu nghệ sĩ nhân dân và học hàm giáo sư. Nếu các
hoạ sĩ vẫn còn nhu cầu và hứng thú vẽ tem về múa, nhất là về múa Việt Nam, tin
chắc việc tìm tư liệu cho sáng tác không khó. Sự thể hiện một điệu múa trên
tem, cho dù dừng lại ở một tạo hình, vẫn luôn luôn đòi hỏi sự chuẩn xác của
các tư thế, động luật riêng của từng động tác múa dân tộc. Nếu hoạ sĩ nắm được
động tác chủ đạo thì khả năng làm rõ đặc điểm của điệu múa càng nhiều hơn. Sự
nghiên cứu nghệ thuật múa với tính chất đối tượng miêu tả - đương nhiên là công
việc cần phải làm của hoạ sĩ. Các hoạ sĩ Lưu Yên, Nguyễn Thế Hùng, Trần Thế
Vinh, Trần Ngọc Uyển, Trần Huy Khánh chắc hẳn đã làm công việc này nên mới đạt
được những thành công trong nghệ thuật miêu tả của họ. Tin rằng sau bộ sưu tập
tem 1945 - 1966 sẽ có tiếp theo các bộ tem về múa nghệ thuật, ở đó nghệ thuật
múa Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc sẽ được đưa lên đầy đủ và đẹp hơn để nhân
dân cả nước cũng như nhân dân thế giới dõi theo bước tiến của một nghệ thuật
cổ truyền được cách mạng tháng Tám làm sống lại và phát triển toàn diện dưới
ánh sáng đường lối văn nghệ của Đảng.
(Tạp chí tem số 65)